Cây dâu tằm, tiên dược trong dân gian

Dâu tằm đối với người Việt ta thì không còn gì xa lạ nữa, lá thì được dùng để nuôi tằm lấy tơ, quả dâu tằm thì dùng để ngâm rượu, làm siro vô cùng hấp dẫn. Và một công dụng nữa là làm thuốc chữa bệnh, tuy nhiên không hoàn toàn mọi người đều biết về công dụng này của dâu tằm

Đây là loại cây gỗ nhỏ, thường cao 2 – 3m. Lá cây hình bầu dục, nguyên hoặc chia 3 thùy, mọc so le nhau. Hoa có hoa đực và hoa cái, hoa đực mọc thành bông, có lá đài với 4 nhị; còn hoa cái thì mọc thành bông hoặc thành khối hình cầu và có 4 lá đài. Quả mọc ra từ trong các lá đài, mới đầu có màu xanh nhạt, sau chín có màu đỏ rồi đen sẫm, vị quả chua chua ngọt ngọt ăn rất ngon có mùi thơm.

Cây dâu tằm, tiên dược trong dân gian1

Dâu tằm mọc hoang và được trồng nhiều nơi ở nước ta, nhất là ở những nơi có nghề nuôi tằm dệt vải. Không phải một hay hai bộ phần mà toàn bộ cây dâu tằm đều được thu hái để làm thuốc. Hiếm có loại cây nào mà tất cả các bộ phần đều là thuốc nên người ta còn gọi dâu tằm là tiên dược. Ngay cả cây tầm gửi hay tổ bọ ngựa trên cây dâu tằm cũng được dùng làm thuốc.

  • Lá dâu dùng mỗi ngày 4 – 14g ở dạng thuốc sắc để chữa cảm mạo, ho, đau họng, nhức đầu, ra mồ hôi trộm, phát ban, mắt đỏ, chảy nước mắt, huyết áp cao.
  • Cành dâu tằm còn non dùng mỗi ngày 20 – 40g ở dạng thuốc sắc để chữa tề thấp, chân tay bị co quắp.
  • Quả dâu tằm với liều dùng từ 12 – 20g để chữa tiểu đường, thiếu máu, ù tai, lao hạch, mắt mờ. Nước quả được cô thành cao để dùng dần. Mỗi ngày uống 3 lần và mỗi lần dùng 5g.
  • Vỏ rễ cây dâu tằm mỗi ngày dùng 4 – 12g sắc nước uống để chữa ho, ho ra máu, phù thũng, đi tiểu ít,…

Không chỉ có vậy, những chẻ ngoại đạo ở “ké” trên cây dâu tằm cũng có khả năng chữa bệnh như cây chủ.

  • Mỗi ngày dùng 12 – 20g tầm gửi để trị các chứng phong tê thấp, đau lưng, mỏi gối. Đồng thời cũng trị đau bụng, động thai.
  • Tổ bọ ngựa trên cây dâu tằm đem tẩm rượu sao, mỗi ngày uống 8g vớ nước chín để chữa hư lao, di tinh, bạch đới, đái đục, đi tiểu không nín được và ra mồ hôi trộm.