Lá chè xanh, một nét văn hóa đẹp, một vị thuốc quý

Từ lâu, thói quen uống nước chè xanh đã trở thành một nét đẹp trong văn hóa ẩm thực không chỉ của Việt Nam, các nước châu Á mà còn lan rộng ra các nước phương Tây. Người ta mời nhau chén nước trà xanh là thể hiện sự mến khách, quý trọng nhau, là một điều không thể thiếu trong cuộc sống hằng ngày. Không những thế, công dụng mà chè xanh mang lại cũng hết sức đáng bất ngờ. 

Lá chè xanh, một nét văn hóa đẹp, một vị thuốc quý1

Chè xanh có nhiều ở nước ta, hầu như vùng nào cũng có, nhưng nhiều nhất và thơm ngon nhất có lẽ phải kể đến chè ở các tỉnh miền núi phía Bắc. Là loại cây cao tầm 1 – 6m. Thường thì người ta sẽ hái những đọt chè không quá non hay không quá già, hái lá bánh tẻ rồi sau đó về nấu uống nước lá chè tươi hoặc sao khô lên. Tuy nhiên uống nước lá chè tươi được cho là có tác dụng tốt hơn. Cách nấu nước chè xanh cũng rất đơn giản. Lá chè được rửa sạch rồi vò hơi nát, cho lá chè vào ấm sau đó đổ nước sôi vào. Bít kín ủ trong khoảng 20 – 30 phút cho lá chè ra nước là có thể uống được.

Theo Đông y thì chè xanh có vị đắng ngọt, hơi chua, có tính hàn và không độc. Chè xanh có tác dụng vào gan, lá lách, phổi và thận. Trong lá chè có chứa tanin và cafeine là chủ yếu. Bên cạnh đó còn chứa một số nhóm hoạt chất như theophyline, theobsonine, triterpenoid, xanthine, cagenin, saporin, một lượng nhỏ caroten, flavolnoid querutin, flavolnoid và kaemplerol. Chè có tinh dầu tạo mùi thơm vô cùng hấp dẫn và đặc trưng đó là chất valotile oils.

Chính các chất hiện diện trong chè đã giúp chè có công dụng phòng bệnh và chữa bệnh rất tốt. Dễ thấy nhất là khi uống chè xanh có cảm giác hưng phấn, hoạt bát hơn là nhờ cafeine tác dụng lên trung khu thần kinh, sau khi lao động mệt mỏi và uống một cốc nước chè xanh pha đường sữa thì lấy lại sức khỏe rất hanh. Chất theophyline có tác dụng làm nhão cơ trơn, nên nó được áp dụng để trị chứng đau gan và khó thở.

Lá chè xanh, một nét văn hóa đẹp, một vị thuốc quý2

Nhờ chất tanin có trong chè đã kìm hãm sự phát triển của vi khuẩn kháng khuẩn, đặc biệt với lị trực trùng. Bên cạnh đó, chè cũng được uống nhiều và có tác dụng hạ huyết áp, trị bệnh hoại huyết và phong thấp nặng, giúp làm lành vết thương, lở loét. Đặc biệt hơn, nước chè xanh có khả năng phòng chống ung thư vì có chất gallat epigallocatecline – hợp chất chính chống ung thư. Các chất có trong chè xanh như theophyline, cafeine, theobronine có tác dụng kích thích tế bào cơ thể sản sinh ra chất interferon trong máu – chất này sẽ ức chế sự phát triển và phân chia của các tế bào ung thư.

Ngoài ra nước chè xanh cũng có tác dụng đối với các chứng bệnh hen suyễn, khó thở, chữa trị ho có đờm, lở loét miệng, trị vẩy nến, thỉnh thoảng cảm thấy nhói lên ở vùng tim thì sử dụng chè xanh cũng đạt hiệu quả rất tốt.

Chè xanh có nhiều ở nước ta, giá thành không cao và có sẵn nên mọi người có thể sử dụng thường xuyên. Tuy nhiên cũng không nên quá lạm dùng, điều này có thể gây mất ngủ, đau đầu hoa mắt, ù tai hay tim đập mạnh,…